Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm xuất sắc PDF. In Email
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Bản tin nhà trường - Tin nhà trường
Viết bởi school   
Thứ hai, 10 Tháng 12 2012 15:47

SKKN

Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm:

Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội góp phần “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

 

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:

  1. 1.Họ và tên: Lê Văn Đông
  2. 2.Ngày tháng năm sinh: 18/7/- Nam
  3. 3.Địa chỉ: 158A/2 Khu phố 1, phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  4. 4.Điện thoại: (CQ) 061; ĐTDĐ: 0918057452
  5. 5.E-mail: C1. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
  6. 6.Chức vụ: Hiệu trưởng
  7. 7.Đơn vị công tác: Trường tiểu học Hòa Bình

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:

-                     Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học sư phạm

-                     Năm nhận bằng: 1998

-                     Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC:

-                     Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Quản lý giáo dục

-        Số năm có kinh nghiệm: 25 năm

-                     Các sáng kiến kinh nghiệm đã thực hiện trong 5 năm gần đây:

1. Các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công tác cho đội ngũ CB,GV,CNV Trường tiểu học Hòa Bình để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2. Thực hiện các nội dung và giải pháp “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Trường tiểu học Hòa Bình.

3. Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội góp phần “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Tên đề tài Sáng kiến kinh nghiệm:

Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội góp phần “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

          1. Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động toàn xã hội làm công tác giáo dục; huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể , các tổ chức xã hội góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân. Chủ trương xã hội hóa giáo dục được mọi người đánh giá là đúng đắn, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, vẫn còn nhiều người chưa hiểu và ủng hộ công tác xã hội hóa giáo dục như tham gia cùng với nhà trường hỗ trợ việc dạy và học, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh, chăm lo cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học… để nâng cao hiệu quả giáo dục.

2. Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013. Phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm đạt các mục tiêu: xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội.

 

3. Năm học 2008-2009, trường tiểu học Hòa Bình được Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Biên Hòa chọn làm điểm xây dựng mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT.

Với những lý do nêu trên, ngay từ năm học 2008-2009, bản thân tôi đã tích cực nghiên cứu và thực hiện các giải pháp nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội góp phần “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

  1. 1.Cơ sở lý luận:

1.1 Chủ trương xã hội hóa giáo dục đã được Đại hội lần thứ VII của Đảng khởi xướng và tiếp tục được Nghị quyết Đại hội VIII, IX và X đẩy mạnh: xã hội hóa công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể , các tổ chức xã hội góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân ngày càng phát triển.

1.2 Công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng giáo dục học sinh. Điều 93 Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục”. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển thực tiễn, dẫn đến tình trạng nhiều trẻ em chưa được hưởng điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt nhất.

1.3 “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” là một môi trường giáo dục có sự kết hợp chặt chẽ, tích cực giữa nhà trường và cộng đồng nhằm hướng tới một môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng, thân thiện, hiệu quả, tạo hứng thú cho HS tích cực học tập và tham gia các hoạt động khác, góp phần đảm bảo quyền trẻ em, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

1.4 Mô hình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do UNICEF đưa ra đã được nhiều nước thực hiện và có hiệu quả . Từ đó có thể thấy, mô hình này có cơ sở khoa học, lý luận vững chắc và đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn.

Với những cơ sở nêu trên, trong những năm qua, bản thân tôi cùng với tập thể sư phạm nhà trường đã tích cực thực hiện một số những giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội để “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và đã có hiệu quả nhất định.

           2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

           2.1 Quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục và “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đối với các ban ngành đoàn thể và các lực lượng xã hội.

           a. Tham mưu cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tổ chức hội nghị quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục và thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đối với các ban ngành đoàn thể, các ban khu phố, đại diện các giáo xứ, ban đại diện cha mẹ học sinh tại địa phương.

           b. Thông qua hội nghị, thực hiện ký kết trách nhiệm giữa các ban ngành đoàn thể với nhà trường trong việc phối hợp thực hiện kế hoạch “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

 

c. Thông qua hội nghị phụ huynh học sinh đầu năm, nhà trường triển khai đến toàn thể phụ huynh học sinh về chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và nhà nước; triển khai quán triệt đầy đủ các mục tiêu, yêu cầu, nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp, quan tâm hỗ trợ xây dựng môi trường giáo dục nhà trường an toàn, thân thiện, hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương.

2.2 Phối hợp với chính quyền địa phương, vận động các lực lượng xã hội và cha mẹ học sinh tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ học tập.

Trong nhiều năm qua, nhà trường đã thực hiện các biện pháp phối hợp với chính quyền địa phương, vận động các lực lượng xã hội và cha mẹ học sinh để huy động học sinh ra lớp, giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ học tập và không để học sinh   bỏ học:

- Phối hợp tổ chức tốt cuộc vận động “ Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường” hàng năm; từng tổ dân phố rà soát số trẻ trong độ tuổi ra lớp; tuyên truyền vận động nhân dân trong khu phố đưa trẻ đến trường; văn hóa-thông tin phường thường xuyên phát tin trên hệ thống phát thanh để vận động; phối hợp với các giáo xứ tuyên truyền vận động nhân dân đưa trẻ đến trường đạt tỉ lệ cao nhất.

- Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, công an, chi hội khuyến học, các ban ngành đoàn thể của phường, ban đại diện CMHS, ban khu phố điều tra nắm chắc số học sinh có hoàn cảnh khó khăn; vận động giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để các em đến trường học tập.

- Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với Ban đại diện CMHS của lớp nắm chắc hoàn cảnh gia đình của từng em học sinh của lớp; khi thấy có biểu hiện nghỉ học thì phải nắm rõ tình hình, lý do và tùy mức độ nhà trường có biện pháp phối hợp để giải quyết, không để học sinh phải bỏ học.

( Trong những năm qua, nhà trường đã phối hợp giải quyết, hỗ trợ cho nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt sắp phải nghỉ học được tiếp tục học tập. Hàng năm, nhà trường vận động trên 10 triệu đồng để tạo điều kiện cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn duy trì việc học. Đặc biệt, nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương, vận động Công ty cổ phần An Co tài trợ học bổng lâu dài cho một học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt số tiền 30.500.000 đồng; vận động công ty Goco Vina hỗ trợ miễn phí tiền ăn bán trú cho các học sinh có hoàn cảnh mồ côi, …)

2.3 Tích cực vận động cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội hỗ trợ việc xây dựng môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp   và thân thiện.

Ngay từ năm học 2008-2009, nhà trường đã tích cực thực hiện mục tiêu, yêu cầu, nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Qua hơn ba năm thực hiện phong trào, nhà trường đã từng bước huy động được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương. Huy động, lôi kéo cha mẹ học sinh tích cực tham gia và hỗ trợ các điều kiện để xây dựng cảnh quan nhà trường xanh, sạch, đẹp, thân thiện và thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục trong nhà trường; cụ thể:

- Vận động phụ huynh học sinh tặng cây kiểng, hòn non bộ,   ghế đá, kệ sách lớp học, sách tham khảo và truyện thiếu nhi,…; phụ huynh học sinh, học sinh các lớp cùng với giáo viên chủ nhiệm thực hiện trang trí lớp học xanh-sạch-đẹp, thân thiện, gần gũi các em.

- Thực hiện mục đích xây dựng cảnh quan nhà trường ngày càng xanh - sạch - đẹp, nhà trường đã vận động phụ huynh học sinh trang bị 20 thùng đựng rác có hình dáng chú chuột Mickey; thực hiện vẽ tranh, lót gạch men xung quanh các phòng học; cải tạo nâng cấp nhà vệ sinh có tranh ảnh, có cây xanh và có âm thanh để tạo sự thích thú và thân thiện, nhằm tuyên truyền giáo dục và hình thành thói quen giữ vệ sinh trường lớp, nơi công cộng cho học sinh.

2.4 Vận động cha mẹ học sinh đầu tư trang thiết bị dạy học; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng dạy và học.

Năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục xác định yêu cầu nhiệm vụ "Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Bên cạnh đó, vài năm trở lại đây, Games thật sự đã khuấy lên một làn sóng tại nước ta, đặc biệt trong giới trẻ; xã hội báo động về tình trạng trẻ em học tập sút kém, bỏ học vì mê games, bạo lực học đường gia tăng vì ảnh hưởng của games,…

Để thực hiện chủ đề nhiệm vụ năm học và giải quyết vấn đề học sinh bị mê hoặc bởi games, nhà trường đã xây dựng kế hoạch vận động phụ huynh học sinh trang bị thêm phòng máy vi tính với 25 máy, nâng số phòng máy lên 2 phòng để tổ chức cho học sinh toàn trường học tập vi tính; đồng thời phát động, khuyến khích học sinh tích cực tham gia hội thi giải toán, Olympic Tiếng Anh trên internet.

Nhà trường cũng đã phối hợp với Trường Đại học Lạc Hồng tổ chức lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cho đội ngũ CB,GV,NV tại phòng máy nhà trường. Đến nay đã có trên 70% CB,GV,NV ứng dụng CNTT có hiệu quả trong giảng dạy và quản lý .

2.5 Tổ chức đa dạng các hoạt động ngoài giờ ; thu hút học sinh và cha mẹ học sinh cùng tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.

Ngoài việc thực hiện kế hoạch giáo dục chính khóa, nhà trường còn phối hợp với cha mẹ học sinh tổ chức đa dạng các hoạt động ngoài giờ, hoạt động vui chơi nhằm giúp các em cảm nhận được sự quan tâm của thầy cô giáo, cảm thấy có được niềm vui khi đến trường để từ đó cố gắng học tập; đồng thời thu hút cha mẹ học sinh cùng quan tâm tham gia, hỗ trợ.

Tổ chức ngày hội trò chơi dân gian vào dịp lễ tết, tạo cho học sinh không khí vui chơi thân thiện, giúp học sinh hình thành kĩ năng sống; tổ chức sân chơi cho học sinh thông qua các hoạt động trò chơi: Ai về đích? Cùng Đức Việt Thông minh và khéo léo, …Tổ chức các chương trình văn nghệ, vui chơi thể thao với nội dung thiết thực bổ ích, huy động sự tham gia hào hứng của tất cả học sinh.

Tổ chức các buổi tham quan tìm hiểu di tích văn hóa, lịch sử giúp các em nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hóa của dân tộc tham quan Bảo tàng Đồng Nai, Văn Miếu Trấn Biên, Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Bến cảng Nhà Rồng,…; tham quan vui chơi tại Khu du lịch Suối Tiên, Đầm Sen, Đại Nam,…

Ngoài ra, nhà trường còn phối hợp tổ chức các hội nghị chuyên đề nhằm phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ( hội nghị tư vấn dinh dưỡng và chăm sóc trẻ; hội nghị tư vấn chăm sóc răng miệng,…). Thông qua việc tổ chức các hội nghị, nhà trường đã thu hút đông đảo phụ huynh học sinh tham dự, tạo sự gắn kết chung tay chăm sóc, giáo dục trẻ.

III. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

  1. 1.Chất lượng dạy và học:

Tỉ lệ học sinh lên lớp không ngừng được nâng lên, đạt chỉ tiêu chung của thành phố; tỉ lệ học sinh giỏi được nâng cao; nhiều năm liền 100% học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học và không có học sinh bỏ học.

 

Nội dung

Năm học

2006-2007

Năm học

2007-2008

Năm học

2008-2009

Năm học

2009-2010

Năm học

2010-2011

Tỉ lệ HS lên lớp

98,5%

98,7%

99,1%

99,6

99,6

Tỉ lệ Hạnh kiểm

(Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ)

100%

100%

100%

100%

100%

Tỉ lệ HS tiên tiến

24,6%

25,2%

26%

43,8%

44,2%

Tỉ lệ HS giỏi

25,3%

25,8%

27%

33,3%

40,4%

Tỉ lệ HS hoàn thành CTTH

100%

100%

100%

100%

100%

Tỉ lệ học sinh bỏ học

0

0

0

0

0

2. Kết quả xây dựng đội ngũ:

Với sự phối hợp, quan tâm hỗ trợ của phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội đã có tác động tích cực đến chất lượng giảng dạy. Đội ngũ giáo viên tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và tích cực tham gia các phong trào, các hội thi.

 

Nội dung

Năm học

2006-2007

Năm học

2007-2008

Năm học

2008-2009

Năm học 2009-2010

Năm học 2010-2011

Tỉ lệ GV đạt chuẩn

100%

100%

100%

100%

100%

Tỉ lệ GV đạt trên chuẩn

60%

68%

80%

86%

90%

Tỉ lệ GV dạy giỏi cấp trường

74%

76%

80,5%

89,5%

78,4%

Tỉ lệ GV dạy giỏi cấp thành phố, tỉnh

24%

24%

36,1%

36,1%

35,1%

Đạt LĐTT

74%

84%

87,5%

90%

92%

Đạt CSTĐ cơ sở

22%

23%

28,6%

31%

30%

3. Kết quả vận động học bổng, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học:

Trong 5 năm qua, nhờ thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, môi trường sư phạm nhà trường khá khang trang, xanh-sạch-đẹp, thân thiện; cơ sở vật chất và điều kiện dạy học của trường được đánh giá là khá tốt so với các trường trên địa bàn thành phố; nhà trường đã trang bị được 2 phòng học vi tính với 50 máy để giảng dạy cho học sinh toàn trường; điều kiện trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy khá đầy đủ; trang bị đầy đủ các phòng chức năng như phòng truyền thống, thư viện, khu nhà tập đa năng, những tiện nghi phục vụ sinh hoạt bán trú cho học sinh.

 

Năm học

Kết quả vận động

Học bổng

Đầu tư CSVC

2006-2007

8 triệu

- Trang bị 12 máy lạnh phòng nghỉ bán trú: 72 triệu đồng

2007-2008

10,2 triệu

- Trang bị 20 thùng đựng rác hình chú chuột Mickey: 38 triệu đồng

- Vẽ tranh sơn tường phòng học: 25 triệu đồng

- Trang trí các pa no, ap phich tuyên truyền giáo dục pháp luật: 15 triệu đồng

2008-2009

14 triệu

- Lót gạch men xung quanh bên trong 14 phòng học, hệ thống bồn rửa tay: 94 triệu đồng

2009-2010

16,5 triệu

- Trang bị     phòng máy vi tính 25 máy: 232 triệu

2010-2011

18 triệu

- Cải tạo 12 phòng vệ sinh HS: 96 triệu đồng

Tổng cộng

66,7 triệu

572 triệu

4. Thành tích học sinh tham gia hội thi, phong trào các cấp:

Với sự quan tâm, hỗ trợ của phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội đã thúc đẩy học sinh nhà trường tích cực học tập, tham gia các phong trào, hội thi và đạt kết quả ngày càng tiến bộ.

 

Năm học

Cấp quốc gia

Cấp tỉnh

Cấp thành phố

2006-2007

 

1 giải

5 giải

2007-2008

 

3 giải

7 giải

2008-2009

6 giải

14 giải

31 giải

2009-2010

6 giải

113 giải

130 giải

2010-2011

2 giải

35 giải

205 giải

IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:

Trên đây là một số giải pháp và kết quả mà nhà trường phối hợp cùng chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và phụ huynh học sinh đã thực hiện để giúp học sinh an tâm học tập, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Qua thời gian thực hiện, nhà trường đã tạo được sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng, thân thiện, hiệu quả; tạo được hứng thú cho học sinh tích cực học tập, tham gia các hoạt động; góp phần đảm bảo quyền trẻ em và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Qua quá trình thực hiện các giải pháp của đề tài và đã có hiệu quả nhất định tại đơn vị, tôi nhận thức để có thể thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục, huy động được phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục, nhà trường phải thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

1. Phối hợp và tổ chức cho phụ huynh học sinh quán triệt đúng đắn về chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước, quán triệt đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

2. Tích cực tham mưu với chính quyền địa phương, giao lưu phối hợp tốt với các lực lượng xã hội, tôn giáo trên địa bàn để xây dựng thực hiện kế hoạch hoạt động có hiệu quả.

3. Nhà trường phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh xây dựng kế hoạch thực hiện có lộ trình cụ thể từng năm, có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế và có sự đồng thuận cao của phụ huynh học sinh.

4. Hiệu trưởng phải thực sự là đầu tàu, nhiệt tâm nhiệt huyết, dành nhiều thời gian cho hoạt động giáo dục của nhà trường; luôn nghiên cứu, suy nghĩ đề ra những giải pháp phù hợp thúc đẩy nhà trường phát triển.

5. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; thực hiện công khai minh bạch theo Thông tư 09/2008/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục-Đào tạo, từ đó tạo niềm tin và uy tín trong phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội.

Với những giải pháp và kết quả đạt được trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội góp phần “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tôi thiết nghĩ sáng kiến này có thể thực hiện rộng rãi ở tất cả các trường học phổ thông, tuỳ theo đặc điểm của từng địa phương để vận dụng cho phù hợp.

V. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,VIII, IX, X;

2.Luật Giáo dục. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006;

3.Cẩm nang xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 5/2009;

4.Tài liệu bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt Nam-Singapore, Hà Nội, 6/2009;

5.Góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh, 5/2010.

NGƯỜI THỰC HIỆN

Lê Văn Đông

Xác nhận của Phòng Giáo dục và Đào tạo TP. Biên Hòa:

Xác nhận của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai:

 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG

CAO CHẤT LƯỢNG SOẠN GIẢNG

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

                          

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

          Trong một vài năm trở lại đây xu hướng đổi mới công tác soạn giảng ngày càng trở nên bức xúc và cần thiết. Thiết kế nội dung (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một khâu đột phá quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên bao giờ cũng dành một thời gian để thiết kế bài. Khi thiết kế bài học cần chú trọng đến nhiều khía cạnh tác động đến quá trình dạy học như : Đặc điểm lứa tuổi học sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện kỹ thuật đồ dùng trực quan, cơ sở vật chất trường lớp... Từ đó có định hướng rõ rệt để xác định những tiêu chí cụ thể cần đạt cũng như cách thức (sự lựa chọn phương pháp phù hợp) để đạt được mục tiêu bài dạy. Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị bài dạy mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau cũng như yếu tố chủ quan không thể tránh khỏi. Đó chính là phụ thuộc vào năng lực sư phạm, sự tự tin, tính sáng tạo trong sử lý các tình huống sư phạm...

Một trở ngại không nhỏ cản trở quá trình đổi mới việc soạn giáo án và thực thi giờ dạy trên lớp chính là do thói quen ngại đổi mới của một bộ phận không nhỏ giáo viên. Thực tế cho thấy nhiều giáo viên muốn giữ nề nếp soạn giáo án theo cách truyền thống mà ở đó giáo án chỉ là sự ghi chép lại nội dung đã có ở sách giáo khoa nhưng không đưa ra các phương pháp dạy học thích ứng với từng giai đoạn học tập của học sinh. Sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thói quen dễ dãi trong soạn giảng, trình độ giáo viên còn nhiều bất cập. Hiện tượng thầy giảng trò nghe, trò chép vẫn là hiện tượng phổ biến, từ đó chất lượng giờ giảng cho hiệu quả thấp, không gây được hứng thú cũng như óc sáng tạo, tích cực hoạt động của trò.

          Từ cơ sở và thực tiễn như vậy đã đặt ra nhiệm vụ tìm ra những giải pháp nào để nâng cao chất lượng thiết kế kế hoạch bài học và giờ dạy là vấn đề cấp bách phải giải quyết, giúp cho anh chị em giáo viên ở trường đổi mới tư duy vào việc làm trong công tác soạn giảng của mình đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với trình độ nhận thức của tập thể giáo viên trong đơn vị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giáo dục. Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn giảng ở trường tiểu học Phú Thạnh” để nghiên cứu, áp dụng vào công tác quản lý của đơn vị, mong góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục ở địa phương.

II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

1. Thuận lợi

          Về giờ giấc 100% giáo viên thực hiện lên lớp đúng giờ, đảm bảo thời gian các tiết học. Tư cách tác phong đĩnh đạc, trang phục gọn gàng, lịch sự. Việc này có tác dụng tới công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tạo cho các em có nề nếp tốt.

          Đủ bài soạn, không nhầm lẫn kiến thức, không cắt xén chương trình, đủ các bước lên lớp, trình bày sạch sẽ, có hệ thống câu hỏi gợi mở hướng dẫn học sinh.

2. Khó Khăn

Song song với những thiết kế tốt vẫn còn nhiều giáo án sơ lược, chưa chú ý đúng mức đến phương pháp dạy học đặc thù đối với từng đối tượng học sinh, những giáo án này thể hiện trình độ chuyên môn hạn chế của giáo viên, thiếu đầu tư suy nghĩ tìm tòi.

3. Số liệu thống kê

          - Đánh giá phân loại hồ sơ cuối năm học 2009 - 2010:

          Tổng số hồ sơ giáo án được xếp loại : 27 hồ sơ.

                   + Loại A: 15 hồ sơ ; đạt 55,6 %

                   + Loại B: 09 hồ sơ ; đạt 33,3 %

                   + Loại C: 03 hồ sơ ; đạt 11,1 %

          - Đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cuối năm học 2009 - 2010:

Tổng số giáo viên được xếp loại: 27 giáo viên

                   + Loại Xuất sắc:   15 giáo viên                    đạt 55,6%

                   + Loại Khá:          12 giáo viên                    đạt 44,4%. 

III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lý luận

          Quá trình dạy và học là tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và học sinh, được giáo viên hướng dẫn. Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng nên soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp. Đồng thời với việc soạn bài là sự chuẩn bị trước cách dạy, đồ dùng dạy học... Đó là công việc chủ yếu trước giờ lên lớp của giáo viên. Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học của người giáo viên là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống. Trong những kĩ năng cần được rèn luyện cho học sinh thì quan trọng nhất là làm cho học sinh có được kĩ năng học tập. Hoạt động dạy và học trong trường tiểu học hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học. Vì vậy dễ hiểu rằng vì sao cả hiệu trưởng và giáo viên đều tập trung sự chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp với một mục đích là nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò riêng đối với giờ lên lớp. Trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp là người giáo viên. Quản lý thế nào để các giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là việc làm của Hiệu trưởng.

          Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học ở trường tiểu học của người giáo viên là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống của trẻ. Trong những kĩ năng cần được rèn luyện cho học sinh thì quan trọng nhất là làm cho học sinh có được kĩ năng học tâp để thực hiện “Hình thành hoạt động học tập” (hoạt động chủ đạo của các em trong thời kỳ này). Phát triển trí tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức, trước hết là phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hoạt động của học sinh. Ở học sinh tiểu học, trí tưởng tượng rất phong phú nhưng trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt trí tuệ (hoạt

động tư duy) cho học tập chưa phát triển đến mức cần thiết. Cho nên dạy học chẳng những phải phát triển trí tưởng tượng của các em mà còn phải rèn luyện các thao tác tư duy để phát triển năng lực nhận thức, năng lực hoạt động khoa học, sáng tạo. Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm của một quá trình dạy học và là hai hoạt động mang tính chất khác nhau. Song thống nhất với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò, dạy và học cùng lúc diễn ra trong những điều kiện vật chất - kĩ thuật nhất định.

Toàn bộ những vấn đề nêu trên đều liên quan chặt chẽ với nhau trong đó điều kiện để dạy tốt và học tốt là vấn đề thiết kế kế hoạch bài học một cách chuẩn

xác về kiến thức, tường minh về phương pháp và cách thức dạy học của người giáo viên. Đồng thời với công việc đó là thực hiện bài giảng một cách linh hoạt, đảm bảo nội dung kiến thức và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Để tổ chức tốt khâu thiết kế và thực hiện tốt bài giảng của người giáo viên cần có vai trò của người cán bộ quản lý nhà trường là nắm bắt xu thế, khơi dậy tiềm năng và chỉ đạo có hiệu quả công việc giảng dạy của giáo viên.

2, Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

          -  Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục các em là phải đảm bảo cho học sinh nắm vững kỹ năng đọc, viết, tính toán, có hiều biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội, con người. Hoạt động dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường. Trong phạm trù giáo dục thì giáo dục trí tuệ là khâu quan trọng nhất. Nó bao gồm việc tiếp thu tri thức và hình thành thế giới quan khoa học, phát triển các năng lực nhận thức sáng tạo. Trong nhà trường hoạt động dạy và học là con đường quan trọng nhất để giáo dục trí tuệ.

         - Hoạt động dạy và học tô đậm chức năng xã hội của nhà trường đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động trung tâm, là cơ cở khoa học của các hoạt động giáo dục khác. Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo trong học tập, lao động, trong cuộc sống. Phát triển trí tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức trước hết là phải phát triển tư duy, độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hành động của học sinh. Thấy được tầm quan trọng dạy và học, tôi tự nhận thấy mình cần kết hợp với Hiệu phó phụ trách chuyên môn tổ chức quản lý tốt hoạt động dạy và học để giáo viên thực hiện đúng , đủ chương trình của từng môn học, ở  từng khối lớp. Đảm bảo truyền thụ đủ, đúng nội dung  kiến thức, kĩ năng cơ bản  của từng môn học ở từng khối lớp của từng dạng bài. Có hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng môn học của từng khối lớp. Giúp giáo viên nắm vững chương trình của từng môn học của từng khối lớp mà mình phụ trách và giáo viên lập kế hoạch thực hiện chương trình thông qua tổ nhóm chuyên môn .

IV. CÁC BIỆN PHÁP

1. Quản lý công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy hàng tuần :

          Việc chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy được triển khai trực tiếp từ Ban giám hiệu tới tổ trưởng tổ chuyên môn. Trong quản lý chỉ đạo xây dựng kế hoạch giảng dạy một mặt phải phát huy vai trò tự chủ sáng tạo của tổ đồng thời

phải chỉ đạo sát sao theo kế hoạch chung của toàn trường. Căn cứ để xây dựng kế hoạch giảng dạy là phân phối chương trình và thời khoá biểu hàng ngày trong tuần. Từ đó các tổ chuyên môn sẽ bàn bạc và xây dựng kế hoạch lên lớp hàng ngày sao cho đúng chương trình và thời khoá biểu, đồng thời vạch kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học cho từng tiết. Đó chính là sơ sở pháp lý để kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch bài học một cách chính xác, đảm bảo tính hệ thống kiến thức, đảm bảo mục tiêu từng bài học, tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp cho từng nội dung bài học, có tính định hướng trước cho học sinh chuẩn bị học tập.

2. Biện pháp quản lý công tác soạn bài để nâng cao chất lượng giảng dạy :

          a) Nghiên cứu và xác định mục tiêu bài giảng : Tổ chuyên môn được giao nhiệm vụ nghiên cứu, vạch kế hoạch bàn bạc thống nhất cách xác định mục tiêu cho các môn học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh và đảm bảo sát với yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng chung do bộ giáo dục ban hành. Trước hết các tổ chuyên môn sinh hoạt theo đúng quy định, ở đó tài liệu về yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng của các môn học được triển khai đến từng thành viên, các cuộc họp này bao giờ cũng có đại diện ban giám hiệu dự để có ý kiến chỉ đạo cụ thể và kịp thời. Từ đó giúp giáo viên chỉnh lại mục tiêu trong sách giáo viên để phù hợp với tình hình học sinh trong lớp mình và đảm bảo yêu cầu cơ bản tối thiểu so với mặt bằng chung. Có thể lấy ví dụ như sau: Một số bài chính tả so sánh phân biệt các phụ âm v/d ở địa phương học sinh thường không mắc lỗi thì đồng thời chỉnh cả nội dung và mục tiêu để dạy cho học sinh những cặp phụ âm hay mắc lỗi hơn như tr/ch, s/x... ( hay gặp ở lớp 4,5).

          b) Thống nhất cách trình bày bài soạn: Thống nhất về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài soạn. Với những giáo viên khá giỏi, dạy lâu năm thì yêu cầu bài soạn khác với những giáo viên mới ra trường. Hình thức trình bày bài soạn phải phù hợp với nội dung bài dạy. Nhờ đó mọi bài soạn của giáo viên trong trường đều theo một cấu trúc thống nhất, chất lượng bài soạn được nâng lên một bước góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học.

          c) Xây dựng các giờ dạy để rút kinh nghiệm : Việc xây dựng giờ dạy rút kinh nghiệm cần thực hiện nghiêm túc từ việc chọn bài dạy, tổ chức thiết kế bài soạn, cân nhắc phương pháp giảng dạy, cách sử dụng đồ dùng trực quan...

d) Tăng cường dự giờ thăm lớp, bồi dưỡng giúp đỡ giáo viên :

          - Để nâng cao chất lượng giờ dạy một công việc quan trọng của nhà trường là tăng cường dự giờ. Trong đó dự giờ thường xuyên các giáo viên đặc biệt là những giáo viên yếu tay nghề là công việc có ý nghĩa quyết định. Việc dự giờ được tiến hành theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần một cách thường xuyên sẽ giúp giáo viên đứng lớp trước hết có tâm thế vững vàng, bởi không ít giáo viên khi có người dự thì dễ bị lúng túng, quan trọng hơn là giúp giáo viên có ý thức chuẩn bị bài tốt hơn, tự tin và có cố gắng hơn trong việc áp dụng các phương pháp mới tích cực hơn hoạt động của học sinh. Sau dự giờ đều có rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, chỉ rõ nhược điểm để khắc phục sửa chữa.

          - Qua dự giờ, Ban giám hiệu nắm được khả năng tổ chức điều khiển học sinh học tập, truyền thụ kiến thức, phương pháp dạy và học  phù với từng đối tượng của lớp, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, việc rèn kỹ năng và

hướng dẫn học sinh phương pháp học tập từng bộ môn, cách học ở nhà, cách học ở lớp của từng giáo viên. Ban giám hiệu cần vận dụng  nhiều hình thức dự giờ khác nhau :

          + Dự giờ các giáo viên khác nhau để kiểm tra chất lượng giảng dạy, học tập của từng giáo viên trong lớp cụ thể.

          + Dự giờ các giáo viên cùng một bộ môn ở các lớp khác nhau để so sánh trình độ của họ, rút ra ưu, nhược điểm chính của mỗi người, phát hiện ra những vấn đề cần điều chỉnh trong phương pháp dạy và học môn đó.

          + Dự giờ theo chuyên đề nắm chắc trình độ của một giáo viên và sự tiếp thu của học sinh nhằm rút kinh nghiệm về một nội dung cần tập trung giải quyết.

          - Ban giám hiệu chú ý thống nhất những việc cần làm khi dự giờ được tiến hành theo một quy trình thống nhất: Chuẩn bị - Dự giờ - Phân tích trao đổi - Đánh giá – Đề nghị .

          + Chuẩn bị : Lập kế hoạch dự giờ, xác định vị trí của bài học trong chương trình, mục đích của bài giảng và dự kiến hoạt động của thầy và trò. Dự kiến nội dung cần quan sát và ước định những tiêu chuẩn đánh giá giờ dự.

          + Dự giờ : Quan sát diễn biến thực tế của bài giảng trên lớp, thu thập thông tin phục vụ cho mục đích dự giờ.

          + Phân tích - trao đổi : Phân tích giờ học không đơn giản là sắp xếp lại các

nhận xét vụn vặt về giờ học mà phải khái quát hoá sư phạm nâng những nhận xét này thành nhận định tổng quát hơn và nêu lên những lý lẽ của những nhận định đó bằng cách xác định tất cả các mối liên hệ của những hiện tượng quan sát được với các căn cứ khoa học của tâm lý học và giáo dục học.

          + Đánh giá : Đánh giá kết quả giờ học (mức độ đạt so với mục đích bài giảng) và chỉ ra đặc điểm lao động của người dạy tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh. Trình độ kiến thức khả năng giảng dạy, tinh thần trách nhiệm cũng như lao động học tập của học sinh (kiến thức và kỹ năng, năng lực nhận thức, thái độ học tập).

          + Đề nghị : Cần phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại hay cần điều chỉnh phương pháp giảng dạy... cho phù hợp với trình độ phát huy được sự chủ động học tập của học sinh.

          Ngoài việc kiểm tra giờ lên lớp kiểm tra khảo sát theo định kỳ cũng rất quan trọng, đánh giá chất lượng dạy của giáo viên qua kết quả học tập của học sinh . Khi kiểm tra khảo sát chất lượng nên tổ chức cho giáo viên trông chéo lớp, chấm điểm tại trường,và chấm chéo. Sau khi kiểm tra có nhận xét học sinh còn yếu về bộ môn nào? Toán yếu về thực hiện phép tính hay đọc viết số về giải dãy tính , tìm X, toán có lời văn. Tiếng Việt còn yếu về từ ngữ, ngữ pháp hay tập làm văn. Sau đó Ban giám hiệu kiểm tra lại xem việc cho điểm của giáo viên đã chính xác chưa. Qua kiểm tra sẽ đánh giá đúng chất lượng của từng lớp, có nhận xét trong hội đồng sư phạm nhà trường.

3. Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và trang thiết bị dạy học trong giờ lên lớp

          Việc đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện ghế ngồi, ánh sáng... cho học sinh góp phần quan trọng không nhỏ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy nói

chung và từng bài học nói riêng. Từ năm học 2009 - 2010 nhà trường đã có đủ số phòng học đạt quy cách về diện tích, ánh sáng. Nhờ đó việc triển khai học nhóm, học các nhân trong các giờ dạy rất thuận lợi góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng mặt khác việc mua sắm thêm thiết bị đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng trực quan trong từng tiết học được chỉ đạo sát sao. Trước hết cần sử dụng có hiệu quả đồ dùng sẵn có, hàng tuần nhân viên thiết bị đều có thông báo rõ ràng môn tiết, tên đồ dùng để giáo viên nắm được và có kế hoạch mượn để sử dụng. Mặt khác mỗi giáo viên đều có từ 1 - 2 đồ dùng tự làm có giá trị đóng góp vào kho đồ dùng để dùng chung. Nhà trường định kỳ và đột xuất kiểm tra việc sử dụng đồ dùng trên lớp. Tuy nhiên việc phát huy ý thức trách nhiệm của các cá nhân và vai trò giám sát, chỉ đạo của tổ chuyên môn mang tính quyết định. Bên cạnh đó các lớp học được trang bị thêm mỗi lớp một tủ giúp giáo viên để đồ dùng dạy học, theo phương châm “ Dễ tìm, dễ thấy và dễ lấy” để sử dụng hiệu quả nhất.

4. Tổ chức các phong trào thi đua, phát huy vai trò của các đoàn thể trong việc nâng cao chất lượng dạy học

          Công đoàn có vai trò rất lớn trong việc động viên các công đoàn viên của mình tham gia xây dựng tập thể đoàn kết và nâng cao chất lượng chuyên môn. Thông qua các đợt thi đua, nhà trường phối hợp với Công đoàn tạo ra những đợt thi đua sôi nổi, tạo không khí phấn khởi hào hứng trong cán bộ giáo viên, qua đó ý thức chuẩn bị bài dạy, ý thức trách nhiệm trong giờ dạy được nâng lên rõ rệt đã có tác động to lớn đến chất lượng chuyên môn nói chung và chất lượng từng giờ dạy nói riêng. Tiếng nói chung của tập thể bao giờ cũng lôi cuốn được mọi người tham gia khi đó trở thành phong trào tốt thì hiệu quả là rất lớn.

V. KẾT QUẢ

          Từ thực trạng của việc bài giảng trong những năm học qua và việc áp dụng một số kinh nghiệm tổ chức, chỉ đạo nâng cao chất lượng soạn giảng đem lại một số kết quả như sau :

          - Đánh giá phân loại hồ sơ cuối năm học 2010- 2011. Tổng số hồ sơ giáo án

được xếp loại   : 28 hồ sơ

          + Loại A: 23 hồ sơ; đạt 82,1 %

          + Loại B: 05 hồ sơ; đạt 17,9 %

          + Loại C: 0 hồ sơ; bằng 0 %

          So với năm học 2009 - 2010, số hồ sơ xếp loại A tăng 8 hồ sơ, bằng 28,6%; hồ sơ loại B giảm 14,3%; hồ sơ loại C không có, giảm 10,7%.

          - Đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cuối năm học 2010 – 2011. Tổng số giáo viên được xếp loại: 28 giáo viên

                   + Loại Xuất sắc:   20 giáo viên                    đạt 71,4% (tăng 5 giáo viên).

                   + Loại Khá:          08 giáo viên                    đạt 28,6%. 

          Nhờ chất lượng công tác soạn giảng được nâng lên rõ rệt nên kết quả xếp loại học lực của học sinh cũng được nâng lên đáng kể góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ năm học của đơn vị. Cụ thể chất lượng giáo dục năm học 2010- 2011 như sau:

  • Xếp loại học lực:

 

Tổng số HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

 

291

37.8

255

33.1

210

27.3

14

1.8

 

          * Xếp loại hạnh kiểm:

Số học sinh

Thực hiện đầy đủ

Chưa thực hiện đầy đủ

Ghi chú

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

770

770

100

 

 

 

 

          * So với đầu năm học: Học sinh có học lực Khá, Giỏi tăng 19,3%, loại yếu giảm 15,7 %.

VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

          Chung quy lại cho thấy giờ lên lớp của giáo viên nếu giáo viên có tác phong mẫu mực, ở mức độ nhất định đã làm chủ được giờ giảng song bên cạnh đó còn phải thực sự vững về kiến thức và phương pháp, đặc biệt việc sử dụng các phương tiện dạy học, biết phối kết hợp các phương pháp dạy học trong một giờ sao cho hiệu quả nhất. Do vậy giáo viên phải chuẩn bị giáo án thật tốt.

Trong quản lý chỉ đạo xây dựng kế hoạch giảng dạy một mặt phải phát huy vai trò tự chủ sáng tạo của tổ khối, cá nhân đồng thời phải chỉ đạo sát sao theo kế hoạch chung của toàn trường.

Với những giáo viên giỏi, dạy lâu năm thì yêu cầu bài soạn khác với những giáo viên mới ra trường. Hình thức trình bày bài soạn phải phù hợp với nội dung bài dạy.

Việc xây dựng giờ dạy rút kinh nghiệm cần thực hiện nghiêm túc. Cần dự giờ thường xuyên các giáo viên, đặc biệt là những giáo viên yếu tay nghề là công việc có ý nghĩa quyết định. Việc dự giờ được tiến hành theo kế hoạch từ đó rút kinh nghiệm trong soạn giảng và giảng dạy.

Khi kiểm tra, Ban giám hiệu phải nói rõ được mục đích của việc dự kiểm tra và người được kiểm tra. Đồng thời khi kiểm tra người cán bộ quản lý cần có thái độ đúng mực. Sau khi kiểm tra có nhận xét đánh giá và giúp giáo viên khắc phục những tồn tại.

           Người quản lý cần quan tâm tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và trang thiết bị dạy học trong giờ lên lớp, tổ chức các phong trào thi đua, phát huy vai trò của các đoàn thể trong việc nâng cao chất lượng soạn giảng trong dạy học.

VII. KẾT LUẬN

          Qua nghiên cứu tôi nhận thấy có sự khác biệt ở các nhóm giáo viên khác nhau. Đối với giáo viên tuổi cao hoặc hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn thì sự đầu tư cho soạn bài rất hạn chế. Việc lập kế hoạch bài học chỉ như là chép lại sách giáo viên mà không có sự đầu tư nào khác, không chú ý đến đối tượng học sinh cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt có trường hợp mượn

giáo án cũ rồi chép lại. Những điều đó làm cho chất lượng giảng dạy kém hiệu quả. Đối với những giáo viên có trình độ chuyên môn vững thì đã có sự đầu tư nhất định. Khi lập kế hoạch bài học họ đã có sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng như tính đến các yếu tố học sinh, phương tiện dạy học, mày mò các tài liệu tham khảo, chú trọng tới việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên số giáo viên này chưa nhiều.

          Từ khi nắm bắt được những tồn tại trên, đưa vào áp dụng một số kinh nghiệm nhỏ để tổ chức khắc phục những nhược điểm đó đồng thời thực hiện tốt việc quản lý, từng bước nâng cao chất lượng soạn bài và giảng bài của giáo viên. Chất lượng bài soạn, giờ dạy đã được nâng lên rõ rệt. Đây là bài học trong khâu tổ chức chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng trường Tiểu học, nhờ có những giải pháp đồng bộ trong khâu thiết kế, thực hành bài giảng và công tác kiểm tra nội bộ trường học mà chất lượng toàn diện được nâng lên .

          Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu, cần có thêm thời gian để tiếp tục kiểm chứng, cần được sự quan tâm hơn nữa của trong công tác chỉ đạo hoạt động chuyên môn nói chung và chỉ đạo công tác soạn giảng nói riêng thì chắc chắn rằng chất lượng dạy và học của trường Tiểu học Phú Thạnh sẽ còn được nâng cao hơn nữa.

VIII. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

          Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội đối với các nhà trường cùng với sự cố gắng chung của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của người Hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan trọng. Để người cán bộ quản lý có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm nêu trên vào công tác quản lý điều hành công việc của mình, Tôi có một số đề xuất như sau:

- Đối với ngành : Đề nghị   có cơ chế chính sách đào tạo đội ngũ   giáo viên phù hợp hơn nữa, tăng cường đào tạo giáo viên dạy chuyên một số bộ môn theo yêu cầu chương trình của Tiểu học.

- Đối với cấp trên: Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và chú trọng về các trang thiết bị đồ dùng dạy học.

- Đối với đơn vị trường học: Cần coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng soạn bài và giảng dạy trên lớp của giáo viên, coi đây là biên pháp nâng cao chất lượng giáo dục bởi hai vấn đề này thực chất có tác động hỗ trợ.

- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần coi việc “Soạn bài” là một công việc quan trọng không thể thiếu của người giáo viên. Tránh tư tưởng chỉ cần làm chiếu lệ, có tính đối phó với các cấp quản lý với những lý do như “ Kết quả dạy trên lớp là trên hết ”. Vì muốn dạy tốt trên lớp thì cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chu đáo mọi vấn đề của bài giảng, các tình huống có thể xảy ra... Đối với công tác dạy học trên lớp người giáo viên cần tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các hình thức tổ chức học tập hợp lý, sử dụng có hiệu quả đồ dùng trực quan.

Với thời gian và khả năng có hạn nên tôi chỉ nêu lên một số biện pháp nhỏ trong công tác tổ chức, chỉ đạo giáo viên trong nhà trường với mục đích góp một

phần nhỏ bé vào công tác nâng cao chất lượng dạy học. Những kiến nghị đề xuất chỉ mang tính chất khái quát những vấn đề chính trọng tâm. Mong nhận được sự quan tâm của các cấp quản lý, đặc biệt là của các thầy cô cùng làm công tác quản lý Trường Tiểu học.

Xin chân thành cảm ơn !

IX. TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Phương pháp dạy học các bộ môn ở tiểu học (Nguyễn Thị Ngọc Bảo – Nguyễn Thị Bình – Nguyễn Thanh Thủy – Nguyễn Mỹ Lệ - ngô Thanh Hưng – Lê Hồng Vân);

- Giáo trình “ Giáo dục tiểu học 1 và 2 ” trường đại học Sư phạm Hà Nội (Đặng Vũ Hoạt – Phó Đức Hòa);

- Cơ sở tâm lý học ứng dụng (GS. Đặng Phương Kiệt).

- Nghiệp vụ Thanh tra Giáo dục Việt Nam (Lê Quán Tần).

Ngày 05 tháng 01 năm 2012

Người thực hiện

Trần Tấn Long

 

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

 

  1. I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
  2. 1.Họ và tên: Nguyễn Thụy Ánh Linh
  3. 2.Ngày tháng năm sinh: 12/02/1972
  4. 3.Nam, nữ: Nữ
  5. 4.Địa chỉ: Khu phố 3 – Thị trấn Vĩnh An – Vĩnh Cửu – Đồng Nai
  6. 5.Điện thoại:
  7. 6.(CQ)/                                 
  8. 7.(NR); ĐTDĐ: 0936383196
  9. 8.Fax:                                               
  10. 9.E-mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
  11. 10.Chức vụ: Hiệu trưởng
  12. 11.Đơn vị công tác: Trường TH Cây Gáo A
  13. II.TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

-       Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân giáo dục Tiểu học

-       Năm nhận bằng: 2004

-       Chuyên ngành đào tạo: Giáo viên Tiểu học

  1. III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

-       Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Công tác quản lí

     Số năm có kinh nghiệm: 6

-       Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

* Tên đề tài nghiên cứu, thực hiện: Một số biện pháp chỉ đạo tổ chức có hiệu quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường Tiểu học Cây Gáo A.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP

CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC CÓ HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CÂY GÁO A

 

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

     Ngày nay, trước sự thay đổi không ngừng của nền kinh tế xã hội, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ và thử thách. Trong bối cảnh đó, giáo dục đang đổi mới trên quy mô toàn cầu. Nhà trường từ chỗ giáo dục khép kín sang mở cửa... đối thoại với xã hội. Trong thời đại này, giáo dục được xã hội quan tâm hơn bao giờ hết, chất lượng giáo dục không chỉ là mục tiêu phấn đấu của ngành mà là mối quan tâm của toàn xã hội, giáo dục phải tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu xã hội trong thời kì mới như Nghị quyết Trung ương II khóa 8 đã khẳng định “Giáo dục học sinh trong giai đoạn hiện nay phải giáo dục toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể dục và mĩ dục”. Để thực hiện nhiệm vụ đó không có con đường nào khác phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh và phải thực hiện ngay từ bậc tiểu học bởi đây là bậc học “nền tảng” rất quan trọng, có đặc điểm, bản sắc riêng, tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững để các em tiếp tục ở các bậc cao hơn, đó cũng là những nhân tố cơ bản góp phần tích cực phát triển nhân cách, tài năng của trẻ. Hoạt động giáo dục trong trường Tiểu học được chia thành hai bộ phận: Hoạt động giáo dục trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Mỗi bộ phận trên có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chúng đều góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu giáo dục trong đó có thể khẳng định hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là điều kiện, là môi trường để trẻ phát triển các yếu tố cả trí tuệ cũng như thể lực.

     Trong trường Tiểu học hiện nay đa số các giáo viên chỉ chú trọng về cung cấp tri thức, đa số giáo viên chỉ quan tâm đến việc dạy xong chương trình thể hiện trong sách giáo khoa. Việc dạy học, giáo dục đa số khép kín trong môi trường lớp học, nhà trường, giáo viên thường chú trọng ở 2 phân môn Toán, Tiếng Việt từ phụ đạo cũng như bồi dưỡng, phát triển năng khiếu, mà dường như quên mất các tư chất bẩm sinh của một số học sinh có năng khiếu thiên về các môn nghệ thuật. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp (NGLL) có thực hiện trong chương trình 1 tuần/1 tiết nhưng hình thức đơn điệu, không thu hút được sự tham gia của học sinh cũng như sự quan tâm của PHHS. Giáo viên hầu như đã quên đi rằng hoạt động giáo dục NGLL là một bộ phận không thể thiếu của quá trình giáo dục, chẳng những giúp các em học sinh được vui chơi, giải trí sau những giờ học mà còn giúp các em biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết những vấn đề do cuộc sống, thực tiễn đặt ra đồng thời học sinh được phát triển, bộc lộ năng khiếu của mình qua một số hoạt động TDTT, văn nghệ, dã ngoại, hoạt động xã hội.

Từ thực trạng trên, qua nhiều năm công tác, tôi cũng như tất cả các anh, chị em đồng nghiệp khác đều nhận thức được vai trò của công tác giáo dục NGLL và mong muốn tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải tạo điều kiện để các em học tập, vui chơi, được bộc lộ và phát triển năng khiếu của bản thân theo như lời dạy của Bác trong thư Bác gởi hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc: "Trong lúc học cũng cần làm cho các cháu vui. Trong lúc vui cũng cần làm cho các cháu học. Ở trong nhà trường, trong xã hội, các cháu đều vui, đều học." chính vì thế nên tôi chọn đề tài nghiên cứu và tổ chức thực hiện đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo tổ chức có hiệu quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học Cây Gáo A”

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lí luận

1.1 Khái niệm

- Hoạt động ngoài giờ lên lớp: là một hoạt động giáo dục cơ bản của trường Tiểu học, được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình giáo dục nhân cách học sinh, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội.

1.2 Nguyên tắc của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

- Các hoạt động phải mang tính giáo dục, đa dạng và phong phú. Học sinh có năng khiếu, yêu thích môn học, lĩnh vực nào thì tham gia lĩnh vực đó để phát triển năng khiếu, sở trường của bản thân.

- Đảm bảo tính tự giác, tự nguyện, không bắt buộc học sinh tham gia mà do sự tự nguyện của mỗi các em nhưng có sự định hướng của giáo viên chủ nhiệm, theo các mô hình hoạt động của nhà trường.

- Nội dung các hoạt động đảm bảo tính vừa sức, hình thức tổ chức khoa học, gọn nhẹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em.

- Đồ dùng phục vụ các hoạt động giáo dục đảm bảo về mặt thẩm mỹ, an toàn, tạo được ấn tượng đối với các em.

- Thông qua các hoạt động phải tạo được mối quan hệ giữa thầy và trò - giáo viên cùng tham gia sinh hoạt, cùng vui chơi với các em.

     2. Thực trạng công tác Giáo dục NGLL

2.1. Thuận lợi

- Trường Tiểu học Cây Gáo A thuộc địa bàn Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Trường có tổng số CB - GV - CNV là 63 và 39 lớp với 1350 học sinh. Tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, đội ngũ CB-GV có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác; một số giáo viên năng động, sáng tạo, tích cực, nhiệt tình tham gia các hoạt động của nhà trường.

- Phần lớn phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em, luôn có sự phối hợp tốt cùng nhà trường trong mọi hoạt động giáo dục học sinh.

     - Học sinh nhanh nhẹn, hoạt bát, có khả năng sinh hoạt tập thể tốt, ham thích được hoạt động và có năng khiếu trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT

2.2. Khó khăn

- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng với yêu cầu của công tác dạy và học hiện nay: do còn thiếu các phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, hội trường...

- Một số ít giáo viên chưa nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nên chưa tích cực trong các hoạt động, việc tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL còn đơn điệu, chưa tạo được hứng thú cho học sinh tham gia.

- Một số phụ huynh học sinh chưa coi trọng và ủng hộ các hoạt động NGLL mà chỉ chú trọng cho con em tập trung học các môn văn hóa nhất là hai môn Toán và Tiếng Việt.

- Do sự phân bổ biên chế (Giáo viên môn tự chọn trong biên chế), các giáo viên dạy đủ số tiết theo quy định nên hầu hết các sinh hoạt chuyên đề, chủ điểm hàng tháng chủ yếu do Tổng phụ trách đảm nhiệm dẫn đến áp lực cũng như quá tải đối với người làm công tác đội nên cũng phần nào hạn chế sự sáng tạo trong việc tổ chức linh hoạt các hoạt động.

Từ những thực trạng nêu trên, làm thế nào để các hoạt động giáo dục NGLL không phải mang tính hình thức, đối phó mà phải có tác dụng thực sự đối với học sinh, tạo môi trường thuận lợi để các em phát triển tư duy, phát triển năng khiếu, giúp các em thoát khỏi 4 bức tường sau những giờ học và từng bước giúp các em tiếp xúc dần với sự muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống, tôi đã đề ra các biện pháp thực hiện và tổ chức thực hiện trong các năm qua tại đơn vị mình và bước đầu gặt hái được nhiều kết quả rất khả quan thông qua các biện pháp cụ thể như sau:

3. Nội dung, biện pháp thực hiện

     3.1. Thành lập ban chỉ đạo; xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động định kỳ:

- Phối hợp cùng với các bộ phận trong nhà trường thành lập ban chỉ đạo; chỉ đạo, điều hành các hoạt động giáo dục NGLL của nhà trường gồm: Hiệu trưởng, đại diện cha mẹ học sinh, Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch công đoàn, Tổng phụ trách, tổ khối, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn phụ trách các câu lạc bộ; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên

+ Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo chung, tuyên truyền, vận động sự hỗ trợ về vật chất từ phía PHHS: làm nhà vòm sinh hoạt, hỗ trợ kinh phí hoạt động, xây dựng các kế hoạch hoạt động.

+ Ban đại diện cha mẹ học sinh chịu trách nhiệm hỗ trợ kinh phí tổ chức hoạt động.

+ Tổng phụ trách: Chịu trách nhiệm tuyên truyền, vận động học sinh thực hiện tốt phong trào. Tổ chức, xây dựng các kế hoạch hoạt động cụ thể trên cơ sở phối hợp với tổ khối.

+ Phó Hiệu trưởng phụ trách các hoạt động: Duyệt nội dung chương trình, câu hỏi... khi tổ chức các hội thi như rung chuông vàng, đố vui, hái hoa dân chủ..., duyệt kế hoạch, giáo án của tổ khối trước khi thực hiện

+ Chủ tịch Công Đoàn Phụ trách công tác tuyên truyền, vận động CB-GV-CNV thực hiện tốt phong trào; chụp ảnh để ghi lại hình ảnh.

+ Giáo viên bộ môn: Âm nhạc; mĩ thuật; thể dục chịu trách nhiệm thành lập, chủ nhiệm các câu lạc bộ: Cầu lông, võ thuật, hát, múa, cờ vua, họa sĩ nhí..., khéo tay.

+ Bí thư đoàn chịu trách nhiệm huy động lực lượng đoàn thanh niên hỗ trợ khi tổ chức các hoạt động giáo dục.

+ Các tổ khối trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm các lớp: Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch cụ thể cho tổ khối mình thực hiện theo nội dung từng tháng, tìm tòi phát hiện các hình thức, nội dung để tổ chức các hoạt động, các trò chơi dân gian đa dạng, phong phú, gây được sự cuốn hút từ phía học sinh nhưng phải đảm bảo tính vừa sức.

- Xây dựng kế hoạch hoạt động của nhà trường trên cơ sở kế hoạch giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng nhất của công tác quản lí. Nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ càng được cụ thể hóa thì hiệu quả và tính khả thi của các hoạt động giáo dục càng cao. Kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được xây dựng trên cơ sở nội dung chương trình năm học và thực hiện theo chủ điểm hàng tháng:

Tháng 9: Niềm vui ngày khai trường

Tháng 10: Người học sinh ngoan

Tháng 11: Ngàn hoa dâng tặng thầy cô

Tháng 12: Uống nước nhớ nguồn

Tháng 1,2: Mừng Đảng, mừng xuân

Tháng 3: Yêu quý mẹ và cô

Tháng 4: Hòa bình và hữu nghị

Tháng 5: Tự hào truyền thống đội, mừng sinh nhật Bác

Hiệu trưởng cùng với ban chỉ đạo dự kiến nội dung thực hiện năm, tháng, tuần trên cơ sở có sự điều tra cơ bản về thực trạng của nhà trường: Đội ngũ giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, sự tham gia hỗ trợ từ phụ huynh học sinh, từ cộng đồng xã hội,…để xây dựng chương trình hoạt động cụ thể của nhà trường theo các tháng. Phân công bộ phận chuyên môn chịu trách nhiệm duyệt kế hoạch khối, giáo viên chủ nhiệm; kiểm tra giáo án, theo dõi, giám sát việc thực hiện của các bộ phận trong nhà trường sao cho thật hiệu quả, đồng bộ.

- Trên cơ sở kế hoạch năm, nhà trường xây dựng kế hoạch tháng: Kế hoạch tháng được xây dựng xoay quanh chủ điểm gắn với từng nhiệm vụ đặc thù của tháng cụ thể cho từng khối lớp với các hoạt động, mức độ, yêu cầu khác nhau, sau đó sẽ được triển khai đến toàn thể giáo viên trong các buổi họp Hội đồng, trong đó giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chủ yếu tham gia bàn bạc nội dung, cách thức tổ chức cho học sinh thực hiện.

- Tổ chức đa dạng các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục NGLL:

+ Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu

+ Tổ chức các mô hình câu lạc bộ "Môn học em yêu thích" (Tiếng Anh, họa sĩ nhỏ, âm nhạc, khéo tay hay làm...)


     + Hội thi hiểu biết về các vấn đề mang tính chính trị – xã hội (Giáo dục Quyền trẻ em ; giáo dục môi trường; giáo dục an toàn giao thông, phòng chống tai nạn, thương tích ở trẻ em, tìm hiểu về quê hương, đất nước, con người Việt Nam) thông qua các hội thi rung chuông vàng, giải ô chữ bí mật, hái hoa dân chủ, đố vui...

+ Các loại hình hoạt động Đội và Sao nhi đồng.

+ Các câu lạc bộ thể dục thể thao: Cầu lông, đá cầu, cờ vua, võ thuật...)

+ Tổ chức tham quan, cắm trại, xem phim, lao động công ích (làm sạch trường, đẹp lớp), trang trí lớp học thân thiện.

+ Tổ chức các trò chơi dân gian

     - Sắp xếp lại thời khóa biểu (giảm tiết sinh hoạt ngoại khóa ở các khối lớp), đưa hẳn các hoạt động thành một buổi vào ngày thứ bảy hàng tuần sao cho các hoạt động sinh hoạt của giáo viên và học sinh diễn ra nhịp nhàng đảm bảo việc tổ chức các hoạt động cho học sinh cũng như các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề của giáo viên. Tuần lễ đầu của tháng tổ chức họp Hội đồng, các tuần lễ còn lại tổ chức đan xen các hoạt động theo quy mô trường, khối. Khối nào tham gia sinh hoạt ngoài giờ lên lớp thì giáo viên chủ nhiệm các lớp, giáo viên phụ trách các câu lạc bộ sẽ cùng tham gia với học sinh. Các khối còn lại sẽ sinh hoạt chuyên môn khối, sinh hoạt chuyên đề...

     * Kế hoạch thực hiện hoạt động NGLL của tháng 12

Thời gian

Nội dung

Người thực hiện

Ghi chú

2/12

Họp Hội đồng

 

 

9/12

- Bồi dưỡng học sinh giỏi khối 3, 4, 5

- Rèn chữ viết cho học sinh năng khiếu.

 

- Sinh hoạt chuyên môn: Củng cố chuyên đề ĐĐ 1, LTVC 2, Họp tổ khối 1.

- Khối 4,5 tổ chức sinh hoạt NGLL nội dung xoáy vào ôn tập cho học sinh chuẩn bị kiểm tra HKI, tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi dân gian.

- Tham gia câu lạc bộ cờ vua, cầu lông.

- Tập dợt năng phần thi năng khiếu cho đội tuyển viết chữ đẹp.

- Giáo viên dạy bồi dưỡng

- Liễu, Ý, Tú Anh, Tươi

GV khối 1, 2, 3

 

 

 

 

Gv khối 4, 5

 

 

 

 

 

Cô Thu, cô Thảo

 

 

Cô Huyền, cô Huệ

Học sinh trong đội tuyển của các khối

 

 

 

HS khối 4, 5 (tổ chức theo điểm trường)

 

 

 

 

 

 

 

 

Đội tuyển viết chữ đẹp

16/12

- Bồi dưỡng học sinh giỏi khối 3, 4, 5.

- Học sinh tham gia VSCĐ cấp huyện

- Tham gia câu lạc bộ cờ vua, cầu lông.

- Rèn kĩ năng đội viên

- Khối 2,3 tổ chức hoạt động ngoài giờ ( hái hoa dân chủ, sinh hoạt tập thể), hát múa sân trường, tham gia các trò chơi dân gian).

- Giáo viên dạy bồi dưỡng

 

 

- Cô Thu

 

Tổng phụ trách đội.

 

GV khối 2,3

 

HS K 5, 3, 4

 

Cả đội tuyển

 

 

HS đăng kí theo danh sách

 

HS khối 2,3 (Tổ chức theo điểm trường)

 

23/12

- Bồi dưỡng học sinh giỏi khối 3, 4, 5.

- Khối 1 tổ chức hoạt động ngoài giờ: các hình thức ôn tập, hệ thống kiến thức cho học sinh chuẩn bị kiểm tra HKI, hát múa sân trường, các hoạt động sinh hoạt tập thể.

- Tham gia câu lạc bộ cờ vua, cầu lông, hát, múa

GV bồi dưỡng

 

 

 

GV Khối 1

 

 

Cô Thu, Cô Thảo, Huyền, Huệ.

HS giỏi khối 3, 4, 5

 

 

HS khối 1 (theo điểm trường)

30/12

- Gv chấm thi HKI

- Sinh hoạt tổ khối chuyên môn: phân tích đánh giá chất lượng kiểm tra HKI, Tổng kết, đánh giá hoạt động chuyên môn học kì I

GV toàn trường

 

- Hoạt động giáo dục NGLL ở trường rất đa dạng và diễn ra trong suốt năm học. Để thu hút học sinh tham gia cần phải có sự đầu tư trong việc đổi mới nội dung, chương trình, cách thức tổ chức. Để làm được điều này ngoài việc chỉ đạo tổ khối, giáo viên chủ nhiệm linh hoạt, sáng tạo trong từng nội dụng để không có sự trùng lắp từ hoạt động giáo dục đến các trò chơi tập thể, trò chơi dân gian. Đối với những chủ điểm lớn trong năm: 20/11, 3/2, 26/3... thì tổ chức với quy mô toàn trường cho toàn thể học sinh, cán bộ, giáo viên, công nhân viên và ban đại diện Hội cha mẹ học sinh cùng tham dự: Ngày Hội xuân, ngàn hoa dâng tặng thầy cô... với nhiều hoạt động đan xen: văn nghệ, TDTT, trò chơi dân gian, nói chuyện chuyên đề, trưng bày sản phẩm khéo tay,.. thông qua các hoạt động này học sinh được tiếp cận với thực tế từ đó hình thành một số kĩ năng sống: kĩ năng hợp tác, ứng xử văn hóa, ý thức bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường… qua đó học sinh được thể hiện một số năng khiếu: Mĩ thuật, múa, hát, ngâm thơ... bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường…

* Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tháng 1: Ngày hội xuân

     1. Hoạt động 1: Văn nghệ (25 phút)

     - Học sinh đồng diễn thể dục : Múa hát sân trường tất cả học sinh từ khối 1 đến khối 5 (350 HS)

     - Học sinh biểu diễn võ thuật, múa, Erobic

     2. Học sinh tham gia các hoạt động (40 phút)

     2.1 Câu lạc bộ toán học

     * Người phụ trách: Thầy Tuấn, Cô Dinh, Cô Hải, Cô Hồng Thúy

     * Số lượng học sinh tham gia: 33 học sinh từ khối 1 đến khối 5

     * Hình thức tổ chức:

     - Học sinh làm việc theo nhóm (5 nhóm, mỗi nhóm 1 khối)

     - Học sinh tham gia chơi một số trò chơi để chọn câu hỏi cho nhóm

     - Học sinh tham gia giải một số đề toán dạng toán vui theo chương trình từ lớp 1 đến lớp 5. Nhóm nào hoàn thành các bài toán theo quy định trong thời gian sớm nhất sẽ là nhóm chiến thắng.

     2.1 Câu lạc bộ "Tiếng thơ"

     * Người phụ trách: Cô Bảy, Cô Trương Anh, Cô Hoa

     - Đối tượng: học sinh từ khối 3 đến khối 5

     - Chủ đề: Viết bài thơ theo thể thức tự do về chủ đề mùa xuân sau đó đọc diễn cảm hoặc ngâm lại bài thơ đó. Chọn bài thơ hay và thể hiện lại ở phần kết thúc.

     2.3 Họa sĩ nhí:

     - Đối tượng: Học sinh từ khối 1 đến khối 5, mỗi lớp 2 học sinh, cùng hợp tác vẽ một bức tranh theo chủ đề mùa xuân. BGK chấm chọn những bức tranh đẹp nhất. HS dùng sản phẩm của mình trang trí lớp học.

     2.4 Góc khéo tay, sáng tạo:

     - Học sinh tham gia các hoạt động:

     * Làm thiệp chúc mừng mùa xuân: Mỗi lớp 2 học sinh, GV phụ trách: Cô Huệ, Cô Tú Anh, Cô Ngọc vân, cô Thảo, cô Mai

 

Sản phẩm của học sinh

 
     * Trang trí cây mai, cây đào ( Mỗi khối trang trí 1 cây) - mỗi lớp có 1 học sinh tham gia. người phụ trách: Cô N Vân(TV), Cô Tươi, Cô Vân Anh

     * Thiết kế thời trang: học sinh khối 3, 4, 5 làm việc theo nhóm học sinh khối 1, 2 sẽ là người mẫu. Người phụ trách: Cô Hòa, cô Thùy Trang, cô Dương, Cô Chung

            + Nhóm 1: lớp: 5/1, 5/2, 4/2, 3/1, 3/2

            + Nhóm 2: lớp: 5/3, 5/4, 4/3, 4/4, 3/3

            + Nhóm 3: lớp: 5/5, 5/6, 4/5, 4/6, 3/4

            + Nhóm 4: lớp: 5/7, 4/1, 3/5, 3/6, 4/7

            + Đoàn thanh niên

     * Bút hoa: Học sinh tham gia viết chữ đẹp (Học sinh viết chữ đẹp ở các lớp) , viết những câu đối ngày xuân. Người phụ trách: Cô Liễu, Cô Ý, Cô Nga

     3. Học sinh tham gia câu lạc bộ võ thuật: Người phụ trách: Cô Thu

     4. Tham gia sinh hoạt tập thể hoặc trò chơi dân gian, tổ khối , GVCN đánh giá phần tham gia hoạt động của HS ( 30 phút)

 

     - Khối 1: Chim sổ lồng

     - Khối 2: Ô ăn quan

     - Khối 3: Hai người ba chân

     - Khối 4: Ném bóng vào sọt

     - Khối 5: Đôi hài vạn dặm

     4. Trưng bày sản phẩm + giao lưu (25 phút)

     - Học sinh trưng bày một số sản phẩm

     - Biểu diễn lại các trang phục đã thiết kế

     - Giao lưu: Múa sạp Giáo viên, đại biểu

     3.2 Nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động giáo dục NGLL trong tập thể CB-GV

     Giáo viên là lực lượng chủ chốt giữ vị trí quan trọng và quyết định chất lượng của tất cả các hoạt động giáo dục ở nhà trường nói chung và hoạt động giáo dục NGLL nói riêng. Xưa nay hầu hết giáo viên xem nhiệm vụ này là của Tổng phụ trách. Để làm tốt công tác này giáo viên phải nhận thức được rằng giáo dục, phát triển năng khiếu cho học sinh là trách nhiệm của một giáo viên chủ nhiệm và chỉ có thông qua các buổi hoạt động NGLL giúp các em vận dụng những tri thức vào thực tế đồng thời bộc lộ được năng khiếu của mình qua một số hoạt động TDTT, văn thể mĩ... Xuất phát từ điều này tôi đã thực hiên một số nội dung sau:

     - Quán triệt đến toàn thể CB-GV mục tiêu của giáo dục phổ thông được quy định tại điều 23 Luật giáo dục: "Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN"

     - Cùng giáo viên thẳng thắn đánh giá lại thực trạng của công tác giáo dục hiện nay, để giáo viên thấy được đã từ lâu rồi, học sinh chỉ được chú trọng trang bị các kiến thức khoa học, sách vở, quá chú trọng vào việc học tập, học sinh mất hẳn tính năng động, tự nhiên trong môi trường giao tiếp xã hội. Hầu hết trong nhà trường chỉ chú trọng đến bồi dưỡng những đối tượng học sinh gioỉ Toán, Tiếng Việt chứ chưa thực sự quan tâm đến các em có năng khiếu thiên về nghệ thuật, TDTT

     - Tổ chức tư vấn, đồng hành cùng giáo viên học tập những điều mới, những điều cần thay đổi như: Cơ sở khoa học của sự cần thiết phát triển toàn diện là chỉ số IQ, EQ và các loại trí thông minh: thông minh vận động, thông minh hình ảnh, không gian, thông minh âm nhạc…để mỗi giáo viên hiểu được rằng mỗi học sinh là một cá thể, với đặc điểm tâm sinh lí khác nhau nên các em có cách tiếp nhận kiến thức, kĩ năng khác nhau và mỗi học sinh cần được phát triển nhiều năng lực khác nhau một cách phù hợp trên cơ sở năng khiếu riêng của chính mình để từ đó giáo viên phải có kế hoạch quan tâm sâu sát đến học sinh và phải nhìn thấy được một điểm gì đó của học sinh mình để bồi dưỡng và phát triển và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sẽ góp phần phát triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh năng khiếu.

     - Thay đổi cách thức tổ chức các buổi họp, các buổi học tập, sinh hoạt chuyên môn với không khí nhẹ nhàng (có thể xen một vài tiết mục văn nghệ, hay một hoạt đông tập thể nhỏ, một mẫu chuyện vui...) để giáo viên có nhịp trải nghiệm và bản thân cảm thấy với tâm lí nhẹ nhàng, thoải mái thì sự tiếp nhận sẽ dễ dàng hơn từ đó giáo viên sẽ có sự vận dụng cho học sinh mình.

     3.3 Duy trì tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi Toán, Tiếng Việt

     Việc duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục từ đại trà đến các phong trào mũi nhọn là một nhiệm vụ quan trọng, đó không chỉ là mục tiêu phấn đấu mà còn là trách nhiệm của nhà trường để khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng xã hội. Vì thế, trong tất cả các hoạt động nhà trường luôn chú trọng công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu Toán, Tiếng Việt. Công tác này được tiến hành liên tục trong suốt năm học và kế thừa từ lớp 1 đến lớp 5. Sau mỗi năm học, cùng với bàn giao lớp mới là bàn giao học sinh giỏi theo cách thức học sinh giỏi phải kế thừa từ những lớp dưới.

     - Lựa chọn giáo viên có năng lực chuyên môn tốt, được sự tín nhiệm của PHHS, có tâm huyết với nghề, với công tác.

     - Bên cạnh các buổi bồi dưỡng tập trung, qua các buổi hoạt động NGLL nhà trường tổ chức đan xen các mô hình: Câu lạc bộ Toán, Tiếng thơ hay qua

các buổi sinh hoạt chủ điểm: Viết về thầy cô giáo, cảm nhận của em về môi trường...giúp các em vui chơi, vừa rèn sự nhạy bén tiếp cận với các lĩnh vực kiến thức em có năng khiếu và vận dụng vào thực tiễn.

     3.4 Tổ chức các mô hình câu lạc bộ và từng bước phát huy tác dụng của các câu lạc bộ trong nhà trường.

     Đối với học sinh Tiểu học ngoài việc học tập, hoạt động vui chơi là một nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi các em. Học để vui chơi, vui chơi để học. Bên cạnh duy trì bồi dưỡng học sinh mũi nhọn 2 môn chủ lực là toán và tiếng việt. Để đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện, phát triển năng khiếu Nhà trường tổ chức các mô hình câu lạc bộ: Võ thuật, cờ vua, múa, cầu lông qua đó giúp các em phát triển năng khiếu, sở trường vừa đê tạo nguồn cho học sinh tham gia các hội thi: Văn nghệ, Erobic, võ thuật, hội khỏe Phù Đổng...qua một số việc làm sau:

     - Triển khai cho học sinh đăng kí tham gia các mô hình câu lạc bộ trên nguyên tắc tự nguyện nhưng có sự định hướng, tư vấn của của giáo viên chủ nhiệm để học sinh phát huy được năng khiếu, sở trường của bản thân.

     - Phân công nhân sự, bố trí giảm tiết cho giáo viên dạy bộ môn nhưng có năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục để giáo viên đảm nhận một số hoạt động cũng như phụ trách các câu lạc bộ (Trên cơ sở thông tư 28 "quy định về chế độ làm việc của giáo viên phổ thông", giáo viên phụ trách các phong trào được bố trí giảm từ 2-3 tiết).

     - Thông báo rộng rãi đến PHHS qua các buổi họp PHHS, các tờ rơi để bước đầu PHHS nắm được mô hình hoạt động của nhà trường và đăng kí cho học sinh tham gia (trên nguyên tắc tự nguyện có sự hỗ trợ kinh phí của PHHS).

 

     - Tạo điều kiện cho các câu lạc bộ hoạt động. Chỉ đạo chuyên môn hướng dẫn giáo viên xây dựng nội dung, chương trình hoạt động. Háng tháng cùng với việc đánh giá công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp song song với việc đánh giá hoạt động của các mô hình câu lạc bộ để ban chỉ đạo có sự định hướng và điều chỉnh kịp thời.

     - Tổ chức và nhân rộng các mô hình hoạt động câu lạc bộ thông qua việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức đêm văn nghệ Thắp sáng ước mơ gây quỹ giúp học sinh nghèo, tham gia giao lưu văn nghệ, TDTT do huyện, thị trấn tổ chức.

     - Nhân rộng những điển hình, những thành tích học sinh đạt được qua các phong trào từ học sinh giỏi Toán, Tiếng Việt, Anh Văn đến các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao bằng các hình ảnh pa-nô, ap phích trong khuôn viên nhà trường để PHHS quan sát, theo dõi từ đó PHHS sẽ đăng kí cho con em mình tham gia theo nhu cầu, sở thích của các em.

     3.4 Phối hợp các lực lượng để cùng tham gia giáo dục học sinh (đặc biệt nhất là Ban đại diện cha mẹ học sinh)

     Cần xác định giáo dục trẻ em không chỉ là nhiệm vụ riêng của nhà trường mà đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong đó cha mẹ học sinh là một lực lượng, một đối tác quan trọng. Không có sức mạnh tổng hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội thì nhà trường khó có thể hoàn thành được mục tiêu giáo dục. Vì vậy việc tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL cũng phải huy động được sức mạnh đó.

     - Xây dựng kế hoạch và triển khai đến toàn thể PHHS.

     - Lựa chọn PHHS là thành viên trong ban chỉ đạo của nhà trường (Khảo sát, tìm hiểu năng lực và tâm huyết của phụ huynh qua các nguồn thông tin, qua GVCN...)

     - Tạo lập uy tín, niềm tin đối với cha mẹ học sinh, lãnh đạo chính quyền, cộng đồng xã hội bằng chất lượng giáo của của nhà trường để PHHS có sụ đồng thuận, cùng hợp tác với nhà trường trong tất cả các hoạt động giáo dục.

     - Xây dựng hệ thống hình ảnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT trong môi trường sư phạm, tạo điều kiện cho PHHS tham gia vào các hoạt động văn hóa văn nghệ của nhà trường: Dự các buổi hoạt động NGLL được nhà trường tổ chức theo chủ điểm lớn.

     - Hướng dẫn GVCN cách thức làm việc, trao đổi với PHHS bằng việc xây dựng kế hoạch, nội dung họp PHHS thật cụ thể, hướng dẫn một số giáo viên chưa có kinh nghiệm cách giao tiếp, cách trao đổi thông tin, cách tuyên truyền, vận động PHHS tham gia hỗ trợ các hoạt động của nhà trường.

     - Phối hợp, vận động PHHS xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động để học sinh có nơi tham gia các hoạt động giáo dục NGLL khi điều kiện trường còn nhiều khó khăn sân trường bụi vì chưa đổ bê tông.

     3.5 Tổ chức, đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động

     Đánh giá, rút kinh nghiệm là một hoạt động không thể thiếu của một quá trinh hoạt động hay trong công tác quản lí. Ở hoạt động giáo dục NGLL bước này thực hiện nhăm mục đích để những lần tổ chức các hoạt động tiếp theo được tốt hơn, thành công hơn và quan trọng là đáp ứng được yêu cầu cũng như nguên5 vọng của các em. Ngoài việc đánh gia chung các hoạt động trong các buổi họp Hội đồng hàng tháng mà sau mỗi buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp hay sau các hoạt động người quản lí yêu cầu giáo viên có thể quan sát, đánh giá tinh thần, thái độ của học sinh tham gia và tổ chức trao đổi với học sinh qua một số nội dung:

     - Những kiến thức em được tiếp thu qua mỗi hoạt động.

     - Những điều các em thích, chưa thích ở các hoạt động.

     - Những công việc và vai trò của em, của nhóm trong mỗi hoạt động

     - Nguyện vọng của em về những hoạt động tiếp theo (nội dung, hình thức, thời lượng dành cho hoạt động, trò chơi em muốn được tham gia...)

     - Và có thể học sinh sẽ trình bày ý kiến qua hộp thư "Điều em muốn nói"

     III. HIỆU QUẢ

     * Kết quả cụ thể

Năm học

Học sinh giỏi Toán (T Việt)

HS năng khiếu đạt giải qua các phong trào

2009-2010

Cấp quốc gia: 06

Cấp tỉnh: 7

Cấp huyện: 86

Lê Quý Đôn: 9

- Đạt giải nhất toàn đoàn cấp huyện phong trào nói lời hay, viết chữ đẹp

- Đạt 2 giải nhì VSCĐ cấp tỉnh

- Đạt giải nhất Hội thi làn điệu dân ca

2010-2011

Cấp quốc gia: 01

Cấp tỉnh: 15

Cấp huyện: 103

Lê Quý Đôn: 15

- Đạt giải nhất toàn đoàn cấp huyện phong trào nói lời hay, viết chữ đẹp

- Đạt giải 3 môn cầu lông cấp tỉnh

- Đạt giải nhất hội thi kể chuyện sách hè.

- Đạt 2 giải 3 cấp tỉnh về ATGT

2011-2012

 

- Đạt giải nhì toàn đoàn Hội khỏe Phù Đổng cấp huyện (EROBIC, đá cầu, Điền kinh, cờ vua)

- Đạt 3 huy chương (2 bạc, 1 đồng) Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh EROBIC, đá cầu)

- Viết và vẽ theo sách (1 giải nhất, 1 giải nhì, 1 giải khuyến khích

 

     - Tạo           được sự chuyển biến về nhận thức trong tập thể sư phạm về ý thức, trách nhiệm của mỗi thành viên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh từ giáo viên, PH cũng như cộng đồng xã hội.- Các hoạt động bước đầu đã đi vào nề nếp, tạo được tâm thế háo hức, vui tươi cho học sinh khi tham gia các hoạt động. Thông qua các hoạt động xây dựng được mối quan hệ tốt giữa các thành viên trong hội đồng sư phạm, sự thân thiện giữa giáo viên và học sinh.

     - Tạo được sân chơi lành mạnh cho học sinh sau những giờ học căng thẳng, rèn được một số kĩ năng cho học sinh trong sinh hoạt.

     - Bước đầu xây dựng được Câu lạc bộ: Võ thuật, cờ vua, múa, câu lông...          

Qua sinh hoạt các câu lạc phát triển năng khiếu, tạo nguồn cho học sinh tham gia hội thi: Văn nghệ, Erobic, võ thuật, hội khỏe Phù Đổng...các cấp đạt hiệu quả cao từ các phong trào học sinh giỏi, vở sạch chữ đẹp, thể dục thể thao, văn nghệ....

     - Vận động được sự hỗ trợ của PHHS trong việc hỗ trợ kinh phí hoạt động cũng như kinh phí hoạt động (làm nhà vòm để học sinh sinh hoạt: 43 triệu đồng, kinh phí hỗ trợ các hoạt động: kinh phí để bồi dưỡng giáo viên dạy bồi dưỡng, giáo viên phụ trách các câu lạc bộ).

     Năm học 2010-2011 trường được vinh dự đón nhận Huân chương lao động Hạng 3, đơn vị lá cờ đầu của tỉnh và được đề nghị tặng cờ thi đua của Thủ tướng.

     IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM, ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ

     1. Bài học kinh nghiệm

     - Sự chỉ đạo đúng hướng, tư vấn kịp thời của các cấp lãnh đạo.

     - Ban giám hiệu nhà trường cần quan tâm sâu sát đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL, xem đây là một hoạt động chính song song với hoạt động giảng dạy và học tập. Sắp xếp và dành thời gian nhiều hơn vào công tác quản lí dạy và học cũng như các hoạt động giáo dục NGLL để đồng hành cùng giáo viên, kịp thời tư vấn, giúp đỡ cũng như phát hiện kịp thời các nhân tố tích cực trong việc đổi mới dù là nhỏ nhất để nhân rộng điển hình tốt trong tập thể sư phạm về công tác giáo dục NGLL.

     - Quán triệt và tạo được sự chuyển biến về nhận thức trong đội ngũ: Xác định rõ đây là một nhiệm vụ giáo dục nên trách nhiệm là của tất cả các thành viên trong hội đồng nhà trường chứ không của riêng bất kì một thành viên nào và điều quan trọng là không thể thiếu vai trò của giáo viên chủ nhiệm.

     - Xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết đến từng nội dung hoạt động và phân công trách nhiệm cụ thể của từng thành viên.

     - Duy trì và tổ chức các hoạt động thường xuyên, có nề nếp. Các hình thức tổ chức phải mang tính giáo dục, đa dạng, phong phú để tránh sự nhàm chán cho học sinh.

     - Tuyên truyền đến PHHS để PHHS tạo điều kiện cho các em tham gia, hỗ trợ kinh phí xây dựng CSVC, kinh phí tổ chức các hoạt động.

     2. Đề xuất, khuyến nghị

     Mở các chuyên đề để tập huấn cho giáo viên các kĩ năng về quản trò, tổ chức các trò chơi tập thể cho học sinh.

     - Đầu tư cơ sở vật chất, có đủ phòng để nhà trường bố trí, đầu tư các phòng chức năng: phòng tập múa, EROBIC, mĩ thuật...

     3. Kết luận:

     Như vậy, có thể nói hoạt động giáo dục NGLL không phải là hoạt động "phụ khóa" trong nhà trường mà là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong trường Tiểu học. Hoạt động này sẽ góp phần mở rộng và làm phong phú hơn lượng kiến thức của học sinh về con người, về xã hội, về cuộc sống xung quanh và đặc biệt từng bước rèn cho học sinh một số kĩ năng cần thiết trong cuộc sống: giao tiếp, ứng xử, hợp tác và làm việc theo nhóm...Dù biết rằng những gì các em có được trên ghế nhà trường ở lứa tuổi Tiểu học hôm nay chưa phải là tất cả, nhưng nếu chúng ta phát hiện, bồi dưỡng kịp thời những học sinh có năng khiếu sẽ là cơ sở, là nền tảng ban đầu vun đắp những tài năng trong tương lai. Dù hiện tại còn rất nhiều những khó khăn trước mắt mà hàng ngày tôi cũng như tập thể sư phạm nhà trường phải khắc phục vượt qua bởi để thay đổi hoàn toàn phương pháp, tư duy đã trở thành thói quen không thể thực hiện trong một sớm một chiều, không phải muốn là có thể làm ngay được. Nhưng tôi tin, tôi sẽ xây dựng được môi trường sư phạm tốt để trường tôi trở thành một cơ sở văn hóa cộng đồng , nơi để cho các em hoạt động, được bộc lộ hết năng lực sống, tính cách và được vun đắp, bồi dưỡng những năng khiếu ban đầu dù là nhỏ nhất, nơi các em được tiếp cận một số kĩ năng sống như ý chí phấn đấu vươn lên trong học tập, kĩ năng ứng xử văn hóa, ý thức bảo vệ sức khỏe cho bản thân. Nơi giúp các em biết cảm nhận cuộc sống và giá trị của cuộc sống để mỗi ngày ở trường là một viên gạch lát con đường cho các em vững bước vào đời trong tương lai.

Người viết

(Đã kí)

Nguyễn Thụy Ánh Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

     - Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học (Nghiệp vụ quản lí trường Tiểu học - Nhà xuất bản Hà Nội)

XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

 


 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 10 Tháng 12 2012 16:10